Home About us Products Services Contact us Bookmark
:: wikimiki.org ::
Thị Xã

Thị xã

Thị xã là một đơn vị hành chính nhà nước thuộc cấp trung gian hiện nay tại Việt Namcấp huyện. Trung tâm của một tỉnh thông thường là một thị xã (trừ các tỉnh có thành phố trực thuộc tỉnh hoặc các tỉnh hiện nay chưa có thị xã như tỉnh Lai Châu mới, tỉnh Đắk Nông).

Các đơn vị hành chính tương đương

Thị xã tương đương với:
- Tại các thành phố trực thuộc trung ương: #Quận (trong phần nội thành) #Huyện
- Tại các tỉnh: #Huyện Sự so sánh trên đây chỉ mang tính tương đối. Khi xét về mặt cảm quan, một thị xã có thể là trung tâm hành chính của một tỉnh, song một quận không thể coi là trung tâm hành chính của một thành phố trực thuộc trung ương. Ngoài ra, quận thường chỉ được chia thành các phường, song thị xã có thể có các phường và các xã ngoại thị.

So sánh

Về quy mô, thị xã nhỏ hơn các thành phố và lớn hơn thị trấn, là nơi tập trung đông dân cư, sinh sống chủ yếu nhờ các hoạt động trong các lĩnh vực như: công nghiệp, dịch vụ, tiểu thủ công nghiệp, thương nghiệp.

Các đơn vị hành chính cấp dưới

Một thị xã được chia ra thành nhiều phường (phần nội thị) và (phần ngoại thị). Thể loại:Đơn vị hành chính Thể loại:Cấp huyện

Việt Nam

Việt Nam (tên đầy đủ là Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam) là quốc gia nằm phía đông của bán đảo Đông Dương, thuộc khu vực Đông Nam Á. Việt Nam giáp giới với nước Trung Quốc ở phía bắc, Vịnh Thái Lan ở phía tây nam, nước Campuchia và nước Lào ở phía tây, Biển Đông ở phía đông và nam (tại đó có các quần đảo Trường SaHoàng Sa mà Việt Nam đang tranh chấp toàn bộ hay từng phần với một số quốc gia láng giềng).

Địa lý

Hoàng Sa :Xem thêm: Địa lý Việt Nam, Du lịch Việt Nam, Hoa quả Việt Nam, Đa dạng sinh học Việt Nam Việt Nam nằm trong bán đảo Đông Dương, thuộc vùng Đông Nam Châu Á. Lãnh thổ Việt Nam chạy dọc bờ biển phía đông của bán đảo này; ngoài ra, Việt Nam cũng xem các quần đảo như Hoàng Sa, Trường Sa thuộc lãnh thổ của mình. Việt Nam có biên giới đất liền với Trung Quốc (1281 km), Lào (2130 km) và Campuchia (1228 km) và bờ biển dài 3444 km tiếp giáp với vịnh Bắc Bộ, Biển Đôngvịnh Thái Lan. Việt Nam có diện tích 331.688 km², bao gồm khoảng 327.480 km² đất liền và hơn 4200 km² biển. (Tuy nhiên, theo quan điểm của nhà nước và của nhiều người dân, diện tích biển của Việt Nam rộng hàng triệu km², bao gồm cả vùng biển của hai quần đảo đang bị tranh chấp.) Địa thế có những đồi và những núi đầy rừng, trong khi đất phẳng che phủ khoảng ít hơn 20%. Núi rừng chiếm độ 40%, đồi 40%, và độ che phủ khoảng 75%. Miền Bắc gồm có cao nguyên và vùng châu thổ sông Hồng; miền Trung là phần đất thấp ven biển, những cao nguyên theo dãy Trường Sơn, và miền Nam là vùng châu thổ Cửu Long. Điểm cao nhất Việt Nam là 3144 mét, tại đỉnh Phan Si Phăng, thuộc dãy núi Hoàng Liên Sơn. Diện tích đất canh tác chiếm 17% tổng diện tích đất Việt Nam. Việt Nam có khí hậu nhiệt đới ở miền nam với hai mùa (mùa mưa, từ giữa tháng 5 đến giữa tháng 9, và mùa khô, từ giữa tháng 10 đến giữa tháng 3) và khí hậu gió mùa ở miền bắc với bốn mùa rõ rệt (mùa xuân, mùa hạ, mùa thumùa đông). Do nằm dọc theo bờ biển, khí hậu Việt Nam được điều hoà một phần bởi các dòng biển và mang nhiều yếu tố khí hậu biển. Độ ẩm trung bình là 84% suốt năm. Lượng mưa hằng năm từ 1200 đến 3000 mm, và nhiệt độ hằng năm từ 5°C đến 37°C. Việt Nam có nhiều mỏ khoáng sản trên đất liền, rừng tự nhiên và một số mỏ dầu ngoài khơi. Hàng năm, Việt Nam luôn phải phòng chống bãolụt lội.

Các thành phần dân tộc

Việt Nam có khoảng 54 thành phần dân tộc khác nhau. Dân tộc Việt (Kinh) chiếm gần 90%, tập trung ở những miền châu thổ và đồng bằng ven biển. Những dân tộc thiểu số, trừ người Hoa, tập trung ở các vùng cao nguyên. Trong số người thiểu số, đông dân nhất là các dân tộc Tày, Thái, Mường, Hoa, Khmer, Nùng..., mỗi dân tộc có dân số khoảng một triệu người. Các dân tộc Brâu, Rơ Măm, Ơ Đu có số dân ít nhất, với khoảng vài trăm cho mỗi nhóm. Có một số dân tộc đã định cư trên lãnh thổ Việt Nam từ rất lâu đời, có các dân tộc chỉ mới di cư vào Việt Nam trong vài trăm năm trở lại đây.

Kinh tế

Việt Nam là một quốc gia nghèo và đông dân đang dần bình phục và phát triển sau sự tàn phá của chiến tranh, sự mất mát viện trợ tài chính từ khối các nước xã hội chủ nghĩa trước đây, và sự yếu kém của nền kinh tế tập trung. Chính sách Đổi Mới năm 1986 thiết lập nền "kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa". Các thành phần kinh tế được mở rộng nhưng các ngành kinh tế then chốt vẫn dưới sự điều hành của Nhà nước. Sau năm 1986, kinh tế Việt Nam đã có những bước phát triển to lớn và đạt được tốc độ tăng trưởng kinh tế trung bình khoảng 9% hàng năm từ 1993 đến 1997. Tăng trưởng GDP 8,5% vào năm 1997 đã giảm xuống 4% vào năm 1998 do ảnh hưởng của sự kiện khủng hoảng kinh tế Á châu năm 1997, và tăng lên đến 4,8% năm 1999. Tăng trưởng GDP tăng lên từ 6% đến 7% giữa những năm 2000-2002 trong khi tình hình kinh tế thế giới đang suy sụp. Hiện nay, giới lãnh đạo Việt Nam tiếp tục các nỗ lực tự do hoá nền kinh tế và thi hành các cải cách cơ sở hạ tầng cần thiết để đổi mới kinh tế và tạo ra các ngành công nghiệp xuất khẩu có tính cạnh tranh hơn. Việt Nam đang thúc đẩy việc gia nhập WTO vào 2005, và đẩy mạnh việc tạo công ăn việc làm để đáp ứng với tốc độ tăng trưởng dân số. GDP theo đầu người (2004):
- Theo sức mua tương đương: 2.700 USD
- Theo tỷ giá hối đoái: 485 USD Tỷ lệ tăng trưởng GDP (2003): 7,24% Tỷ lệ tăng trưởng GDP trung bình hàng năm (1990-2003): 6,12% Tỷ trọng trong GDP (2004)
- Nông nghiệp: 21,8%
- Công nghiệp và xây dựng: 40,1%
- Dịch vụ: 38,1% Tỷ giá hối đoái (Trung bình năm 2005)
-
- 1USD = 15.850 VND Tỷ lệ lạm phát (cuối năm 2004; tính theo năm): 9.5% Tài chính công (chính quyền trung ương, tính theo tỷ lệ % của GDP theo giá hiện hành, ước tính cho năm 2003)
  -
- Thu: 22,66%
- Chi: 24,70%
- Thâm hụt: 2,04% Nợ nước ngoài (% GDP, tại thời điểm cuối 2002): 40% Cán cân thanh toán theo ngoại tệ chuyển đổi (2003)
- Xuất khẩu (f.o.b): 19,88 tỉ USD
- Nhập khẩu (c.i.f) : 24,99 tỉ USD
- Thâm hụt thương mại: 5,11 tỉ USD Các mặt hàng xuất khẩu chính (2003):
Dầu thô (19%), hàng dệt may (18%), hải sản (11%), giày dép (11%), gạo (4%), cà phê (3%), các loại khác (34%). Các mặt hàng nhập khẩu chính (2003):
Máy công cụ (21%), xăng dầu (10%), vải (8%), thép (7%), quần áo (5%), xe máy (1%); linh kiện điện tử (2%), phân bón (2%), các loại khác (44%). Các thị trường xuất khẩu chính (2003):
Hoa Kỳ (20%), Nhật Bản (14%), Trung Quốc (9%) Úc (7%), Singapore (5%), Đài Loan (4%), Đức (4%), Anh (4%), Pháp (2%), Hà Lan (2%), các nước khác (29%). Các chỉ số:
- Tỷ giá liên ngân hàng của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam

  - Theo ước tính của Bộ Tài chính

    - do Diễn đàn kinh tế thế giới (WEF) đánh giá xếp hạng trong 117 nước [http://www.vnn.vn/kinhte/2005/10/495411/]

Chính trị

Việt Nam là một nuớc theo chế độ xã hội chủ nghĩa, đặt dưới sự lãnh đạo duy nhất của Đảng Cộng sản Việt Nam. Tổng bí thư của đảng này hiện nay là ông Nông Đức Mạnh. Bên cạnh đảng lãnh đạo về đường lối, hệ thống chính trị Việt Nam còn có chính phủ được điều hành bởi người đứng đầu là Thủ tướng Chính phủ Phan Văn KhảiQuốc hội Việt Nam, cơ quan lập pháp và giám sát chính phủ, đứng đầu bởi Chủ tịch Quốc Hội Nguyễn Văn An. Ngoài ra, một vị trí quan trọng trong hệ thống chính trị Việt Nam là Chủ tịch nước, hiện được đảm nhiệm bởi ông Trần Đức Lương.

Đối ngoại

Đảng Cộng Sản và Nhà nước Việt Nam chủ trương thực hiện đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, rộng mở, đa dạng hoá, đa phương hoá quan hệ quốc tế, chủ động hội nhập quốc tế với phương châm "Việt Nam sẵn sàng là bạn và là đối tác tin cậy của tất cả các nước trong cộng đồng thế giới phấn đấu vì hoà bình, độc lậpphát triển". Hiện nay, Việt Nam đã thiết lập quan hệ ngoại giao với 168 nước thuộc tất cả các châu lục, bao gồm tất cả các nước và trung tâm chính trị lớn của thế giới và cũng là thành viên của 63 tổ chức quốc tế và có quan hệ với hơn 500 tổ chức phi chính phủ trên thế giới. Đồng thời, Việt Nam đã có quan hệ thương mại với 165 nước và vùng lãnh thổ. Trong tổ chức Liên Hiệp Quốc, Việt Nam đóng vai trò là ủy viên ECOSOC, ủy viên Hội đồng chấp hành UNDP, UNFPAUPU... Vai trò đối ngoại của Việt Nam trong đời sống chính trị quốc tế đã được thể hiện đậm nét thông qua việc tổ chức thành công Hội nghị Thượng đỉnh Cộng đồng Pháp ngữ (La Francophonie) năm 1997, Hội nghị cấp cao ASEAN năm 1998, Hội thảo quốc tế về hợp tác và phát triển Việt Nam và Châu Phi năm 2003, Hội nghị cấp cao ASEM-5 năm 2004. Năm 2006, Việt Nam đăng cai tổ chức Hội nghị Thượng đỉnh APEC.

Lịch sử

:Bài chính: Lịch sử Việt Nam Lịch sử Việt Nam được bắt nguồn từ sự định cư của các tộc người Việt cổ trong thời Hồng Bàng mà theo nhiều tài liệu là từ năm 2879 trước Công Nguyên (TCN). Bắt đầu từ thế kỷ 2 TCN, quốc gia này bị các tập đoàn phong kiến phương Bắc cai trị trong hơn 1000 năm. Sau nhiều lần khởi nghĩa không thành, đến năm 938, nhà nước Việt Nam dành được độc lập sau trận chiến lịch sử trên sông Bạch Đằng. Tuy nhiên, người Việt vẫn chịu ảnh hưởng nhiều bởi thể chế chính trị và xã hội, hệ thống chữ Hán (thường gọi là chữ Nho), nghệ thuật và giáo dục của người Trung Quốc. Trải qua các triều đại phong kiến, và với những lần mở rộng lãnh thổ xuống phía Nam, đất nước Việt Nam thống nhất với phạm vi địa lý như hiện nay vào năm 1802. 1802, Thăng Long.]] Đến giữa thế kỷ 19, Việt Nam trở thành thuộc địa của Pháp. Trong thế chiến thứ 2, phát xít Nhật chiếm Đông Dương. Ngay sau khi quân Đồng Minh dành thắng lợi, người Việt Nam đã giành lấy chính quyền từ tay phát xít Nhật. Ngày 2 tháng 9 năm 1945, Hồ Chí Minh đọc Tuyên Ngôn Độc Lập khai sinh ra nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà, nhà nước đầu tiên của nước Việt Nam hiện đại. Sau Thế chiến thứ hai, người Pháp muốn chiếm lại thuộc địa Đông Dương nhưng vấp phải sự phản kháng quyết liệt của người Việt Nam. Sau chiến thắng của Việt Minh tại chiến trường Điện Biên Phủ ngày 7 tháng 5 năm 1954, Pháp buộc phải rút khỏi Đông Dương. Hiệp định Geneva được ký kết, chấm dứt ách đô hộ gần một trăm năm của Pháp tại Việt Nam, đồng thời chia đôi nước Việt Nam và lấy vĩ tuyến 17 làm ranh giới, sau 1 năm sẽ tiến hành tổng tuyển cử cả nước, tuy nhiên do Hoa Kỳ không tuân thủ hiệp định Genève, đưa Ngô Đình Diệm lên nắm quyền ở Miền Nam Việt Nam, do đó hình thành miền Bắc là nuớc Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà dưới sự lãnh đạo của Hồ Chí Minh theo xã hội chủ nghĩa, nhận được hỗ trợ từ Liên Xô, Trung Quốc và các nước trong khối xã hội chủ nghĩa. Tại miền Nam, nước Việt Nam Cộng Hoà, với sự hậu thuẫn của Hoa Kỳ và một số nước tư bản, được thành lập. Xung đột giữa hai miền mở ra một cuộc chiến tranh kéo dài suốt 2 thập kỷ. Năm 1964, Hoa Kỳ leo thang chiến tranh, đưa quân Mỹ vào chiến đấu trực tiếp tại chiến trường Việt Nam, và thực hiện các đợt ném bom miền Bắc bằng máy bay B52. Đến tháng giêng 1973, sau những thất bại liên tiếp trên chiến trường Việt Nam cùng với làn sóng phản chiến trong nước và trên thế giới, Hoa Kỳ ký Hiệp định Paris, và rút quân khỏi Việt Nam. Chiến tranh chỉ kết thúc vào ngày 30 tháng 4 năm 1975 khi thủ đô Sài Gòn của miền Nam bị sụp đổ để lại hậu quả vô cùng nặng nề. Năm 1976, nước Việt Nam thống nhất lấy tên là Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Sau chiến tranh, chính sách sai lầm đưa Việt Nam lâm vào khủng hoảng trầm trọng về kinh tế và xã hội. Đại hội Đảng lần VI năm 1986 chấp thuận chính sách Đổi mới theo đó cải tổ bộ máy nhà nuớc, và chuyển đổi nền kinh tế theo hướng kinh tế thị trường. Giữa thập niên 1990, Việt Nam bắt đầu hội nhập vào cộng đồng quốc tế. Năm 1995, Việt Nam gia nhập khối ASEAN sau khi bình thường hóa quan hệ với Mỹ một năm trước đó. Hiện giờ Việt Nam là thành viên của Liên Hợp Quốc, Cộng đồng Pháp ngữ, ASEAN, APEC và đang nỗ lực trở thành thành viên của Tổ chức Thương mại Thế giới.

Văn hoá

Bài chính: Bản sắc văn hoá Việt Nam Việt Nam có một nền văn hoá rất đa dạng, phong phú và giàu bản sắc dân tộc vì có sự đóng góp của nhiều thành phần dân tộc trên lãnh thổ Việt Nam. Bên cạnh đó, văn hóa Việt Nam còn có một số yếu tố từ sự kết tinh giao thoa giữa nền văn hoá Trung QuốcẤn Độ cùng với nền văn hoá lúa nước của người dân bản địa.

Lễ tiết trong năm


- Những ngày lễ được nghỉ:
- Những ngày lễ khác Xem chi tiết: Các ngày lễ ở Việt Nam

Các tỉnh

:Xem bài Các đơn vị hành chính Việt Nam Việt Nam được chia ra 59 tỉnh và 5 thành phố (thủ đô: Hà Nội): An Giang, Bà Rịa-Vũng Tàu, Bắc Giang, Bắc Kạn, Bạc Liêu, Bắc Ninh, Bến Tre, Bình Định, Bình Dương, Bình Phước, Bình Thuận, Cà Mau, Cần Thơ
- , Cao Bằng, Đà Nẵng
- , Đắk Lắk, Đắk Nông, Điện Biên, Đồng Nai, Đồng Tháp, Gia Lai, Hà Giang, Hà Nam, Hà Nội
- , Hà Tây, Hà Tĩnh, Hải Dương, Hải Phòng
- , Hậu Giang, Hòa Bình, Thành phố Hồ Chí Minh
- , Hưng Yên, Khánh Hòa, Kiên Giang, Kon Tum, Lai Châu, Lâm Đồng, Lạng Sơn, Lào Cai, Long An, Nam Định, Nghệ An, Ninh Bình, Ninh Thuận, Phú Thọ, Phú Yên, Quảng Bình, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Quảng Ninh, Quảng Trị, Sóc Trăng, Sơn La, Tây Ninh, Thái Bình, Thái Nguyên, Thanh Hóa, Thừa Thiên-Huế, Tiền Giang, Trà Vinh, Tuyên Quang, Vĩnh Long, Vĩnh Phúc, Yên Bái

Tham khảo


- [http://www.vinabook.com/product/product_detail.php?product_id=4389 Nhiều tác giả, Đại cương lịch sử Việt Nam tập I (Từ thời nguyên thuỷ đến năm 1858), Nhà xuất bản Giáo dục, 2001]

Xem thêm


- Danh sách đài truyền thông Internet tiếng Việt

Liên kết ngoài


- [http://www.gso.gov.vn/ Tổng Cục Thống Kê Việt Nam]
- [http://pso.hochiminhcity.gov.vn/ Cục Thống Kê TPHCM]
- [http://www.mofa.gov.vn/tt_vietnam/ Thông tin Việt Nam] của Bộ Ngoại giao Việt Nam
- [http://www.vietnamtourism.com/v_pages/vietnam/province/province.htm Các tỉnh, thành phố Việt Nam]
- [http://www.informatik.uni-leipzig.de/~duc/amlich/ Âm lịch Việt Nam]
- [http://www.vme.org.vn Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam] tại Hà Nội Thể loại:Quốc gia Thể loại:Nước cộng sản ms:Vietnam zh-min-nan:Oa̍t-lâm ko:베트남 ja:ベトナム simple:Vietnam th:ประเทศเวียดนาม

Tềnh

Dân tộc Khơ Mú Tên gọi khác Xá Cẩu, Mứn Xen, Pu Thênh, Tềnh, Tày Hạy Nhóm ngôn ngữ Môn - Khmer Dân số 43.000 người. Cư trú Sống tập trung ở các tỉnh Nghệ An, Lai Châu, Sơn La, Thanh Hóa, Yên Bái. Đặc điểm kinh tế Người Khơ Mú sống chủ yếu bằng kinh tế nương rẫy. Cây trồng chính là ngô, khoai, sắn. Trong canh tác, đồng bào dùng dao, rìu, gậy chọc hốc là chính. Hái lượm săn bắn giữ vị trí quan trọng, nhất là lúc giáp hạt. Đồng bào nuôi gia súc, gia cầm chỉ để phục vụ dịp lễ lạt, tiếp khách. Nghề đan lát phát triển. Đồng bào đan các đồ dùng để vận chuyển, chứa lương thực... Người Khơ Mú không phát triển nghề dệt vải, nên thường mua quần áo, váy của người Thái để mặc. Tổ chức cộng đồng Các họ của người Khơ Mú thường mang tên một loài thú, một loài chim hay một thứ cây nào đó. Mỗi dòng họ coi thú, chim, cây ấy là tổ tiên ban đầu của mình và họ kiêng giết thịt và ăn thịt các loại động, thực vật này. Mỗi dòng họ có huyền thoại kể về lai lịch của tổ tiên chung, người cùng dòng họ coi nhau là anh em ruột thịt. Hôn nhân gia đình Ơở gia đình người Khơ Mú, vợ chồng bình đẳng, chung thủy. Người Khơ Mú có tục cưới rể một năm, sau đó mới đưa vợ về nhà mình. Khi ở nhà vợ, người chồng đổi họ theo vợ, còn nếu có con thì con theo họ mẹ, trái lại khi về nhà chồng thì vợ phải đổi họ theo chồng và các con lại mang họ bố. Người cùng dòng họ không được lấy nhau, nhưng con trai cô được lấy con gái cậu. Trong việc dựng vợ gả chồng và trong cuộc sống gia đình, vai trò của người cậu đối với các cháu rất quan trọng. Văn hóa Dân tộc Khơ Mú có vốn truyền thống văn hóa lâu đời, tuy cuộc sống vật chất còn nghèo, nhưng cuộc sống tinh thần khá dồi dào. Nhà cửa Đến nay ở nhiều vùng người Khơ Mú vẫn còn du canh du cư. Làng bản của họ thường cách xa nhau, nhỏ bé, ít dân. Nhà cửa phần lớn làm sơ sài, đồ dùng trong nhà cũng ít ỏi. Trang phục Người Khơ Mú không phát triển nghề dệt vải, nên thường mua quần áo, váy của người Thái để mặc. Sắc thái Khơ Mú thể hiện ở trang phục hầu như đã bị phai mờ tuy trang sức của phụ nữ còn có đôi điểm riêng biệt. Khơ Mú

Đắk Nông

http://fiditour.com/vn/dak%20nong.htm ĐẮK NÔNG (Mã vùng 84 -) Diện tích: 6 514.38 km2 Dân số (2002): 363 000 người Tỉnh lỵ: Thị trấn Gia Nghĩa Các huyện: Đắk Nông, Đắk R'lấp, Đắk Mil, Đắk Song, một số xã của huyện Cư Jứt và Krông Nô. Dân tộc: Việt (Kinh), Êđê, Nùng, M'Nông, Tày. Nhiệt độ trung bình năm 24oC. Mùa khô từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau, mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 10 trong năm. Phía bắc tỉnh Đắk Nông giáp tỉnh Đắk Lắk, phía đông và đông nam giáp tỉnh Lâm Đồng, phía tây giáp tỉnh Bình Phước và nước bạn Căm-pu-chia. Tỉnh Đắk Nông nằm ở phía tây nam Trung Bộ, đoạn cuối dãy Trường Sơn, trên một vùng cao nguyên, độ cao trung bình 500m so với mặt biển. Địa hình tương đối bằng, có bình nguyên rộng lớn với nhiều đồng cỏ trải dài về phía đông. Phía tây địa hình thấp dần, nghiêng về phía Căm-pu-chia, phía nam là miền đồng trũng có nhiều đầm hồ. Có 3 hệ thống sông chính: sông Ba, sông Sêrêpôk (các nhánh Krông Bông, Krông Pắk, Krông Ana, Krông Nô,..) và một số sông nhỏ khác, nhiều thác nước cao, thuỷ năng lớn. Khí hậu vùng này tương đối ôn hoà, nhiệt độ trung bình năm 24oC, tháng nóng nhất và lạnh nhất chỉ chênh lệch trung bình 5oC. Thời tiết và lượng mưa phụ thuộc theo mùa. Mùa khô từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau, nhiều gió và hơi lạnh, thời tiết khô hạn, nhiều khe suối khô cạn. Mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 10 trong năm, lượng nước rất lớn, nhiều năm bị ngập lụt ảnh hưởng đến giao thông. Đăk Nông có diện tích đất canh tác màu mỡ, chủ yếu là đất bazan, thuận lợi cho trồng cây công nghiệp, đặc biệt là cà phê, cao su, tiêu... Vùng đất này có nền văn hoá cổ truyền khá đa dạng của nhiều dân tộc đậm nét truyền thống và bản sắc riêng. Nơi đây còn lưu giữ nhiều pho sử thi truyền miệng rất độc đáo như sử thi Đam San dài hàng ngàn câu. Các luật tục cổ, kiến trúc nhà sàn, nhà rông và tượng nhà mồ còn chứa bao điều bí ẩn đầy hấp dẫn. Các loại nhạc cụ dân tộc từ lâu đời đã trở nên nổi tiếng và là niềm tự hào của cả vùng Tây Nguyên, của văn hoá dân gian Việt Nam: bộ đàn đá của người M'nông (huyện Lắk), bộ chiêng đá được phát hiện tại Đắk R'lấp có niên đại hàng ngàn năm về trước, đàn T'rưng, đàn Klông pút, đàn nước, kèn, sáo,... Nếu đúng dịp, du khách sẽ được tham dự những lễ hội độc đáo còn nguyên chất dân gian. Trong lễ hội, cả buôn làng cầm tay nhau nhảy múa xung quanh đống lửa theo nhịp của cồng, chiêng. Di tích - Danh thắng: Thác Diệu Thanh; Thác Ba Tầng; Thác Đắk Nông; Đồi thông ở Nam Nung; Cao Nguyên Jubát Lễ hội: Hội Xuân Thể loại:Tỉnh Việt Nam

Thể loại:Đơn vị hành chính

Thể loại:Hành chính

Thể loại:Cấp huyện

Thể loại:Đơn vị hành chính

AS-16 Kickback

The Raduga Kh-15 (NATO reporting name AS-16 'Kickback') is Soviet/CIS short-range nuclear missile carried by bomber aircraft. Produced by MKB Raduga, it is similar in design and purpose to the USAF AGM-69 SRAM used from 1971 to 1991. The bureau designation is RKV-500B. Development of the RKV-500 began in the late 1960s, and it entered service in the early 1980s, carried by the Tupolev Tu-22M and other bombers. Similar in configuration and purpose to SRAM, it is produced in three versions: the Kh-15A, an anti-ship missile with active radar homing; the Kh-15P, a SEAD version with an anti-radar seeker for use against enemy radar sites; and the basic Kh-15 nuclear stand-off missile with inertial guidance. The Kh-15 climbs to an altitude of about 40,000 m and then dives in on the target, accelerating to a speed of about Mach 5. An export version of the anti-ship version has been developed under the designation Kh-15S.

Specifications


- Length: 4.78 m (15 ft 8 in)
- Diameter: 455 mm (19 in)
- Wingspan: 0.92 m (3.01 ft)
- Launch weight: 1,200 kg (2,645 lb)
- Warhead: 150 kg (330 lb)
- Guidance: inertial, active radar, or anti-radiation
- Maximum speed: approximately Mach 5
- Range: 300 km (185 mi)
- Accuracy (CEP): unknown Category:Soviet Cold War air-to-surface missiles Category:Nuclear air-to-surface missiles

Hotel Genoa Online Casinos Doda i Virgin kreatyna yciorys










































:: RELATED NEWS ::
The Flower of Scotland
Flower of Scotland (korrekt, aber seltener The Flower of Scotland) ist ein patriotisches Lied aus Schottland, das zu einer Art inoffizieller Nationalhymne geworden ist. Hierbei steht sie in Konkurrenz zu Scotland the Brave. Die eigentliche Nationalhymne von Großbritannien - einschließlich Schottland - ist "God save the Queen, aber Schottland hat eigene nationale Fußball - und Rugbymannschaften, die bei internationalen Spielen eine andere Hymne als die der englischen Mannschaften benutz
Persönlichkeits- und Differenzielle Psychologie
Die Differenzielle und Persönlichkeitspsychologie befasst sich mit den Unterschieden (Differenzen) zwischen einzelnen Personen im Hinblick auf psychische Dimensionen und Eigenschaften. Wichtige Untersuchungsgegenstände sind dabei zum Beispiel die Intelligenzdiagnostik (siehe Intelligenzquotient), die Kreativität, aber auch die allgemeine Frage, worauf diese Unterschiede zwischen den Individuen beruhen. In Abgrenzung zur Allgemeinen Psychologie, die von Merkmalen ausgeht, di
Laizisierung
Laizismus (auch: Laizität) ist ein religionsverfassungsrechtliches Modell, das im französischen Verständnis des Begriffs über die Trennung von Kirche und Staat und die religiöse und weltanschauliche Neutralität des Staates insofern hinausgeht, als dass der Staat Religionsausübung als eine rein private Angelegenheit betrachtet, die in der Öffentlichkeit keinen Raum hat. In anderen Staaten variiert die Auslegung des Begriffs.

Geschichte

Der Begriff „Lai
Deutschsprachige Gemeinschaft Belgiens
right Die Deutschsprachige Gemeinschaft Belgiens (DG) ist mit 71.300 Einwohnern, mehrheitlich deutschsprachige Belgier, die kleinste der drei Gemeinschaften in Belgien. Die Gemeinschaften entstanden nach der Regionalisierung des zentral regierten Nationalstaates 1983. Das Gebiet wird zusammen mit den zur Französischen Gemeinschaft gehörenden Gemeinden
Somatic experiencing
Somatic Experiencing ist eine körperpsychotherapeutische Methode zur Überwindung von Traumata. Entwickelt von Dr. Peter Levine.
Ausgehend von der Beobachtung, dass wildlebende Tiere selten traumatisiert werden, wurde von Dr. Peter Levine eine Methode zur Behandlung von Trauma beim Menschen entwickelt. Die Besonderheit der Methode liegt in ihrem biologischen Ansatz. "Trauma ist nicht im Ereignis, Trauma ist im Nervensystem" (Dr. Peter Levine).

Weblink

http://www.traumahealing.com/

http://www.somatic-experiencing.de

Methana
Die Kurstadt Methana liegt im Südteil der gleichnamigen griechischen Halbinsel am Saronischen Golf am Ostzipfel der Peloponnes. Methana (Griechisch: Μέθανα) Die Kurstadt ist berühmt durch ihre Thermalbäder. Die
MuLISP
muLISP ist eine DOS-basierte kommerzielle Entwicklungsumgebung für LISP sowie eine eigene LISP-Variante. Sie wurde 1979 durch die Firma Software House (Honululu, Hawaii), die zwischenzeitlich von Texas Instruments gekauft wurde, entwickelt und z. B. für CP/M vertrieben. 1982 wurde es von der damals noch jungen Softwarefirm
Wassersäule
Die Wassersäule ist eine nicht SI-konforme Einheit zur Messung des Drucks. Verwendet wurde sie im Rahmen des CGS-Einheitensystems. Ein Meter Wassersäule (Abkürzung 1 m WS) entspricht unter Normbedingungen 9,80665 kPa (rund 0,1 bar). Obwohl die Einheit seit 1. Januar 1978 nich
Bundestagswahl 1998
Die Bundestagswahl am 27. September 1998 bedeutete ein Novum in der Geschichte der Bundesrepublik: Erstmals wurde eine Bundesregierung komplett abgewählt, während bei den Regierungswechseln 1969 und 1982 lediglich der jeweilige "Seniorpartner" (SPD, bzw. CDU/CSU) wechselte. Gleichzeitig erhiel
Adoleszenz
Die Adoleszenz ist das Übergangsstadium in der Entwicklung des Menschen von Kindheit (Pubertät) hin zum vollen Erwachsensein und stellt den Zeitabschnitt dar, während dessen eine Person biologisch ein Erwachsener ist, aber emotional und sozial noch nicht vollends gereift ist. Das Alter, das betrachtet wird, in dem man sich in der Adoleszensphase befindet, schwankt je nach Kultur. In den Vereinigten Staaten wird die Adoleszenz im Allgemeinen b
All Rights Reserved 2005 wikimiki.org